
lí thuyết về phương pháp mô tả và những quy luật chuyển động của các hạt vi mô trong các trường ngoài; một trong những bộ môn chủ yếu của lí thuyết lượng tử. Giải thích nhiều tính chất vi mô của vật chất như cấu trúc và phổ nguyên tử, bản chất của liên kết hoá học, vv. Đồng thời, là cơ sở để hiểu các hiện tượng vĩ mô từ những tính chất cơ bản của chất rắn, các hiện tượng từ, siêu chảy, siêu dẫn... đến các quy luật của ngành năng lượng hạt nhân, điện tử học lượng tử, vv., bởi vì tính chất của các vật thể vĩ mô được xác định bởi chuyển động và tương tác của các hạt vi mô cấu thành chúng.
Khác với lí thuyết cổ điển, trong CHLT các hạt vi mô vừa mang tính chất hạt vừa mang tính chất sóng. Hai tính chất này bổ sung cho nhau, xác định cách mô tả trạng thái của hệ vật lí và biến đổi của nó theo thời gian qua hàm sóng. Trong CHLT có một loạt các nguyên lí và hiện tượng mà cơ học cổ điển không có hoặc không giải thích nổi: nguyên lí bất định, quy tắc chồng chất, nhiễu xạ hạt, sự gián đoạn giá trị có thể có (lượng tử hoá) của một loạt các đại lượng vật lí như năng lượng điện tử trong nguyên tử, vv. Hằng số quan trọng nhất của CHLT là hằng số Plăng (h), một trong những hằng số cơ bản của tự nhiên xác định ranh giới giữa những lĩnh vực các hiện tượng có thể mô tả được bằng vật lí cổ điển (khi đó h ≈ 0) và lĩnh vực các hiện tượng đòi hỏi cách mô tả lượng tử. CHLT xuất hiện từ đầu thế kỉ 20, là cơ sở cho sự phát triển các công nghệ cao ngày nay. Hiện nay, cách diễn giải CHLT còn có nhiều điểm tranh luận phức tạp chưa thống nhất. Xt. Hàm sóng; Lưỡng tính sóng hạt; Plăng (Hằng số); Srôđingơ (Phương trình).